Chuyển đến nội dung chính

Vốn ngoại quay lưng với nông nghiệp Việt Nam

Vốn ngoại quay lưng với nông nghiệp Việt Nam


Đến hết tháng 8/2014, tổng vốn đầu tư đăng ký vào lĩnh vực nông nghiệp mới chỉ đạt 3,4 tỷ USD, chiếm 3,03% tổng số dự án và 1,4% tổng vốn đầu tư đăng ký.

Đọc những thông tin kinh tế - tài chính mới nhất trên FICA:
 
Là một nước nông nghiệp đang trong quá trình công nghiệp hóa, Việt Nam chủ trương ưu tiên đầu tư cho phát triển nông, lâm ngư nghiệp, tuy nhiên, đầu tư vào lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp trong bối cảnh hạ tầng nông thôn yếu kém, nguồn vốn hạn chế, nên thực tế so với các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ, tỷ trọng thu hút vốn đầu tư từ mọi nguồn lực còn khiêm tốn, chưa tương xứng với tiềm năng và ý nghĩa quan trọng của lĩnh vực này trong nền kinh tế, chưa tạo được bước phát triển nhanh trong sản xuất hàng hóa với chất lượng cao như mong muốn.
 
Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ KHĐT), tính đến tháng 8/2014, mới chỉ có có 512 dự án FDI trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký là 3,4 tỷ USD, chiếm 3,03% tổng số dự án và 1,4% tổng vốn đầu tư đăng ký. 
 
Với kết quả này, nông nghiệp đứng thứ 10 trong số 18 ngành kinh tế đã có đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
 
Von-ngoai-quay-lung-voi-nong-nghiep-Viet-Nam-1.jpg
 
Chất lượng của các dự án FDI lĩnh vực nông nghiệp chưa cao, phần lớn là các dự án quy mô nhỏ
 
Cục Đầu tư nước ngoài cho biết, hiện nay, tỷ trọng vốn FDI trong nông nghiệp là rất thấp trong cơ cấu ngành kinh tế và có xu hướng ngày càng giảm. Cả nước hiện có 16.910 dự án đầu tư nước ngoài (FDI) được cấp phép đầu tư với tổng vốn 243 tỷ USD trong đó lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp chỉ có 509 dự án với tổng số vốn đăng ký đạt 3,39 tỷ USD, chỉ chiếm 3,03% tổng số dự án và 1,4% tổng vốn đăng ký. 
 
Bình quân hàng năm, toàn ngành thu hút được khoảng 20 dự án và 130 triệu USD mỗi năm. Thực tế, nhịp độ thu hút vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN) vào lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp đã đạt mức cao giai đoạn 1991 đến 2000. Tuy nhiên, giai đoạn gần đây, thu hút ĐTNN vào lĩnh vực này đã giảm mạnh. Cụ thể, nếu như cách đây 15 năm, FDI vào nông lâm ngư nghiệp chiếm 15% trong tổng vốn đầu tư FDI của cả nước thì trong 3 năm gần đây chiếm chưa đến 0,5%.
 
Chất lượng của các dự án FDI lĩnh vực nông nghiệp chưa cao, phần lớn là các dự án quy mô nhỏ. Nếu như quy mô vốn đầu tư bình quân một dự án FDI vào khoảng 14,7 triệu USD thì một dự án FDI nông nghiệp chỉ đạt 6,6 triệu USD.
 
Thêm vào đó, phân bổ vốn FDI trong nông nghiệp cũng không đồng đều. Các dự án FDI tập trung chủ yếu ở các dự án thu hồi vốn nhanh như chăn nuôi, chế biến thức ăn chăn nuôi, trồng rừng, chế biến gỗ và lâm sản, thủy sản. Trồng rừng và chế biến gỗ chiếm khoảng 78% tổng vốn FDI vào nông nghiệp; trong khi các ngành chế biến nông sản, thủy sản còn rất khiêm tốn.
 
Ngoài ra, các dự án FDI trong lĩnh vực nông nghiệp cũng chủ yếu đến từ các nhà đầu tư của khu vực Châu Á có nền công nghệ chưa thực sự phát triển cao như Thái Lan, Đài Loan, Indonesia… các nước phát triển cao như Mỹ, Nhật Bản, EU… còn ít.

 
Vì sao FDI chỉ “nhỏ giọt” vào nông nghiệp?
 
Việc vốn FDI chảy “nhỏ giọt” vào lĩnh vực nông nghiệp, theo Cục Đầu tư nước ngoài, trước hết là do đầu tư vào lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp tiềm ẩn nhiều rủi ro. 
 
Hoạt động này thường diễn ra ở các vùng nông thôn rộng lớn, điều kiện tự nhiên khó khăn, lệ thuộc nhiều vào thời tiết, sản phẩm mang tính mùa vụ, dễ hư hỏng, thường xuyên bị ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh… Sản phẩm nông nghiệp thường có tỉ suất lợi nhuận thấp, mức thu nhập không cao. Trong điều kiện thời tiết Việt Nam luôn thay đổi thất thường, thiên tai thường xuyên xảy ra thì rủi ro do thiên nhiên mang lại trong lĩnh vực này càng cao.
 
Trong khi đó, sản xuất nông nghiệp Việt Nam chủ yếu là quy mô nhỏ, phân tán, thiếu tính liên kết, phối hợp và không chuyên nghiệp, chưa tạo ra sức thu hút đầu tư của các doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp FDI. Các vùng sản xuất chưa được chuyên môn hóa với kết cấu hạ tầng đồng bộ; cơ cấu sản xuất chưa ổn định, thiếu tầm nhìn dài hạn
 
Kết cấu hạ tầng kinh tế, kỹ thuật ở nông thôn hiện nay rất kém, muốn “đến” với nông dân, các doanh nghiệp buộc phải đầu tư thêm nhiều hạng mục ngoài công trình, chi phí lớn, nhất là đối với ngành lâm nghiệp, do chủ yếu phát triển tại các vùng, miền địa hình đồi núi, giao thông vận tải khó khăn khiến nhiều doanh nghiệp FDI e ngại. 
 
Bên cạnh đó, số lượng người lao động có tay nghề, được đào tạo bài bản về lĩnh vực nông nghiệp hiện nay còn rất thấp. Hơn nữa, hệ thống sản xuất, tiêu thụ hàng nông sản còn bất cập, Việt Nam chưa thiết lập được mối quan hệ giữa các hộ nông dân với các doanh nghiệp, chưa phát huy hết vai trò của các hiệp hội theo ngành hàng.
 
Ngoài ra, quy hoạch vùng nguyên liệu cho các nhà máy chế biến còn yếu, thiếu. Vùng nguyên liệu được xem là yếu tố sống còn với doanh nghiệp chế biến và vì vậy doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực này cần sử dụng nhiều đất đai để xây dựng vùng nguyên liệu. Tuy nhiên trên thực tế, tại các địa phương, đất đai đã được giao hết cho các hộ nông dân với quy mô sản xuất manh mún, đầu tư phân tán, nhỏ lẻ, chạy theo thị trường khiến các cơ sở chế biến nông sản FDI luôn bị động về nguồn nguyên liệu.
 
Việc tổ chức sản xuất, thu mua, chế biến và tiêu thụ nông sản ở Việt Nam còn nhiều vấn đề mâu thuẫn, phức tạp khó xử lý. Tình trạng mất cân đối giữa cung và cầu về nguyên liệu cho chế biến nông sản diễn ra phổ biến, liên tục và ngày càng nan giải. 
 
Tình trạng nông dân không gắn hoạt động sản xuất nông sản nguyên liệu của họ với hoạt động thu mua, chế biến của các doanh nghiệp đang đẩy tới tình trạng tranh chấp trong mua – bán nguyên liệu vừa đẩy giá nguyên liệu lúc lên cao, lúc xuống thấp diễn ra phổ biến gây bất lợi cho cả người nông dân sản xuất, các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ và cả lĩnh vực nông nghiệp nói chung. 
 
Phần lớn nông sản (tới 90%) được tiêu thụ ở dạng tươi sống và chế biến thô, giá trị gia tăng thấp và không có thương hiệu, nguồn gốc Việt Nam.
 
(Nguồn: Bích Diệp - Dantri.com.vn)

Bài đăng phổ biến từ blog này

Hồ tiêu đối mặt rủi ro

Hồ tiêu đối mặt rủi ro Giá tăng cao khiến diện tích trồng hồ tiêu tăng theo ồ ạt - cũng đồng nghĩa với việc mặt hàng này phải đối mặt với những rủi ro về thị trường tiêu thụ trong tương lai. Giá tăng vượt ngưỡng kỷ lục Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam (VPA) cho biết, vượt qua những khó khăn về thiên tai, sâu bệnh và tình hình thương mại toàn cầu có chiều hướng suy giảm, ngành hồ tiêu Việt Nam đã có những phát triển vượt bậc trong năm 2014. Nông dân thăm vườn tiêu sạch ở huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai. Ảnh: Thuận Hải Theo đó, sản lượng xuất khẩu hồ tiêu niên vụ 2014 đạt gần 156.400 tấn, tăng hơn 13% so với 2013 và chiếm 50% thị phần xuất khẩu hồ tiêu toàn cầu. Kim ngạch xuất khẩu đạt mức 1,2 tỷ USD, tăng 34,7% so với năm 2014, mức giá bình quân đạt 7.738USD/tấn, tăng hơn 1.000USD/tấn so với cùng kỳ năm trước. Đây cũng là năm đầu tiên hồ tiêu Việt Nam tham gia vào nhóm các mặt hàng xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD. Ông Đỗ Hà Nam – Chủ tịch VPA cho biết, giá tiêu tại các tỉnh đã đạt mứ...

Doanh nghiệp Nhật Bản tìm cơ hội đầu tư nông nghiệp tại Hà Nam

Doanh nghiệp Nhật Bản tìm cơ hội đầu tư nông nghiệp tại Hà Nam Ảnh minh họa. (Nguồn: TTXVN)   Ngày 26/5, đoàn doanh nghiệp Nhật Bản do ông Naigai Katsurou, Công sứ Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam làm trưởng đoàn đã đến Hà Nam tìm hiểu cơ hội hợp tác, đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp. Đại diện Ngân hàng Mitsubishi Nhật Bản cho biết, tuy không trực tiếp tham gia sản xuất nông nghiệp, nhưng Ngân hàng Mitsubishi có những hoạt động phục vụ trong lĩnh vực nông nghiệp như giới thiệu cho các khách hàng của Ngân hàng tại Nhật Bản những ưu điểm của Việt Nam để các doanh nghiệp này đến đầu tư. Bên cạnh các doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp, Ngân hàng cũng giới thiệu các doanh nghiệp sản xuất các nông cụ, nhà kính, nhà lưới... Ngoài ra, Ngân hàng Mitsubishi cũng cung cấp vốn sản xuất cho các doanh nghiệp Nhật Bản và Việt Nam để đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, đồng thời mua lại các sản phẩm nông nghiệp của nông dân và doanh nghiệp Việt Nam. Theo ông Suzuki Too...

Cuộc sống khấm khá nhờ trồng sắn dây

Cuộc sống khấm khá nhờ trồng sắn dây Từ việc trồng sắn dây tự phát với quy mô nhỏ lẻ, năng suất thấp, nhiều hộ nông dân tại xã Thạnh Đông, H.Tân Châu (Tây Ninh) đã áp dụng kỹ thuật trồng mới mang lại hiệu quả kinh tế cao. Ông Phượng áp dụng cách trồng mới giúp sắn dây có sản lượng cao - Ảnh: Giang Phương Mày mò tìm cách trồng mới Theo thống kê của Hội Nông dân xã Thạnh Đông, diện tích sắn dây tại địa phương tăng dần trong những năm gần đây (hơn 10 ha, lớn nhất H.Tân Châu) xuất phát từ cách trồng mới do nông dân tìm tòi, nghiên cứu và áp dụng thành công. Một trong những hộ dân thực hiện thành công cách trồng sắn dây mới mang lại hiệu quả kinh tế cao là ông Đinh Xuân Phượng (ngụ ấp Thạnh Nghĩa, xã Thạnh Đông). Ông Phượng kể, gia đình ông có 0,2 ha đất dùng để trồng khoai mì. Mỗi vụ mì cho thu hoạch chỉ khoảng 6 triệu đồng (chưa kể công nhà tự bỏ ra chăm sóc). Thấy lợi nhuận từ cây mì thấp hơn nhiều so với...