Chuyển đến nội dung chính

Kinh nghiệm sử dụng nấm đối kháng với cây trồng cạn

Kinh nghiệm sử dụng nấm đối kháng với cây trồng cạn


Theo nghiên cứu, nấm đối kháng (Trichodecma) có khả năng ức chế các vi sinh vật gây hại trong đất trồng, cạnh tranh dinh dưỡng với chúng và kích thích rễ cây phát triển nhanh hơn. Mặt khác, nấm còn giúp cố định đạm tốt hơn, làm đất tơi xốp, giữ ẩm lâu, phân giải các chất hữu cơ trong đất nhanh hơn… Vì vậy muốn hạn chế cây trồng bị chết rũ, cần đưa nấm đối kháng vào đất ngay trước khi trồng, đồng thời bổ sung định kỳ trong suốt quá trình sinh trưởng của cây, nhất là những thời điểm cây mẫn cảm với bệnh chết rũ.

kinh nghiem su dung nam doi khang voi cay trong can hinh anh 1
Ruộng cà chua được bổ sung nấm đối kháng.  Ảnh: I.T
 
Riêng các cây thuộc họ hành tỏi, cần tập trung bổ sung nấm đối kháng vào đất trồng, vùng rễ cây ngay đầu vụ (giai đoạn mẫn cảm nhất của cây hành với bệnh chết rũ). Nấm đối kháng được trộn cùng phân chuồng rắc đều vào luống đất để bón lót. Khi hành bật khỏi mặt rạ 5-10cm tưới tiếp nấm lần 2. Lần cuối cùng bổ sung nấm vào vùng rễ cây hành tỏi sau lần 2 khoảng 10-15 ngày.
Tùy theo lượng nấm đối kháng có trong mỗi chế phẩm mà nông dân có thể dùng với liều lượng khác nhau (áp dụng theo khuyến cáo của nhà sản xuất). Chế phẩm có tác dụng cao khi được trộn cùng phân chuồng để bón hoặc được nhân nhanh trong dung dịch nước đường rồi tưới vào vùng rễ cây trồng. Thậm chí được sử dụng vào lúc ủ phân chuồng để nhân nhanh số lượng và giúp các chất hữu cơ trong phân chuồng phân giải nhanh hơn, vi sinh vật có hại ít phát sinh.
Việc sử dụng nấm đối kháng sau gieo trồng để hạn chế bệnh chết rũ cho rau màu sẽ khác nhau ở mỗi cây trồng. Tùy theo thời gian sinh trưởng của mỗi loại rau màu khác nhau mà số lần sử dụng nấm đối kháng cũng nhiều, ít khác nhau. Thời điểm cần bổ sung nấm vào vùng rễ cây cũng khác nhau phụ thuộc vào thời kỳ mẫn cảm với bệnh chế rũ của mỗi cây trồng. Ví dụ cây hành mẫn cảm với bệnh ở giai đoạn còn non, nhưng cà chua, dưa, bầu bí lại chết rũ nhiều thời kỳ mang quả. Nên ưu tiên sử dụng nấm đối kháng bổ sung vào vùng rễ cây trồng khi thời tiết có mưa kéo dài hoặc cây trồng trong giai đoạn mẫn cảm với bệnh chết rũ.
Bà con cần chú ý một số điều sau:
+ Vì là chế phẩm sinh học nên khi sử dụng không được trộn cùng phân bón hóa học để tưới hoặc bón hay phun cùng thuốc BVTV hóa học.
+ Muốn nấm phát huy tác dụng cao, cần thúc đẩy nấm nhân nhanh số lượng bằng cách hòa vào dung dịch nước đường trong 12-24 giờ hoặc hòa cùng nước phân chuồng để tưới. Nếu thời điểm dùng nấm đối kháng cũng phải cần bón phân hoặc thuốc trừ sâu hóa học thì nên dùng cách nhau 2-3 ngày.
+ Chế phẩm nấm đối kháng cần được sử dụng ngay sau khi sản xuất là tốt nhất. Bảo quản nấm ở nơi thoáng mát, khô ráo…
Nhiều nông dân vùng chuyên canh rau màu ở Hải Dương đã sử dụng thành công nấm đối kháng nhằm khống chế bệnh chết rũ trên cà chua, hành tỏi, dưa bầu bí… Theo kinh nghiệm của bà con, đối với cây dưa, bầu, bí: Sử dụng nấm đối kháng ngay từ khi làm bầu cây con, tiếp đó bổ sung nấm đối kháng vào các luống đất nhằm xử lý mầm bệnh trước khi gieo trồng (phun chế phẩm hoặc bón cùng phân chuồng). Sau trồng, bổ sung định kỳ cho cây từ 2-3 lượt khi cây dưa bò được 1m, cây đang nuôi quả và khi quả báo chín.
Với các cây họ cà (cà chua, ớt, cà tím...): Bổ sung nấm đối kháng vào thời điểm cây con trong bầu, trước hoặc ngay sau khi trồng, thời điểm cây bắt đầu ra hoa đậu quả, khi cây mang quả rộ và cho thu hoạch rộ.
(Nguồn TÂY ĐÔ)

Bài đăng phổ biến từ blog này

Biến đổi khi hậu: Nguy cơ xóa sổ ngành nông nghiệp Việt

Biến đổi khi hậu: Nguy cơ xóa sổ ngành nông nghiệp Việt Chỉ cần mực nước biển dâng cao thêm 1m, diện tích đất trồng lúa sẽ giảm đi một nửa, từ 4 triệu ha xuống chỉ còn 2 triệu ha   Những tháng cuối năm 2015, người ta nói nhiều đến việc Cộng đồng Kinh tế ASEAN sẽ giúp Việt Nam tăng trưởng GDP thêm 7%, hay Hiệp định TPP có thể kích GDP lên 10%. Nhưng ít ai để ý rằng biến đổi khí hậu đang đều đặn làm Việt Nam mất đi 5% GDP mỗi năm, tương đương khoảng 15 tỉ USD. Thực tế, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu sẽ toàn diện và sâu rộng đến mọi ngõ ngách của nền kinh tế hơn bất kỳ hiệp định thương mại nào, từ nông nghiệp, thủy sản, công nghiệp cho đến cơ sở hạ tầng. Kéo theo đó là nguy cơ mất việc làm hàng loạt của 53% lực lượng lao động Việt Nam.   Bốc hơi 22% lượng nông nghiệp Biến đổi khí hậu sẽ ảnh hưởng đến an ninh lương thực, dinh dưỡng quốc gia và toàn ngành nông nghiệp nghiêm trọng hơn bất cứ cuộc khủng hoảng kinh t...

Cách trồng và chăm sóc cây lá lốt trong chậu

Cách trồng và chăm sóc cây lá lốt trong chậu Xuất hiện trong nhiều món ăn quen thuộc và có nhiều tác dụng khác nhau nên lá lốt được trồng ở khắp nơi. Người dân chỉ cần chú ý theo một số kỹ thuật trồng cây dưới đây là có thể tự cung cấp rau cho gia đình. Cây lá lốt có tên khoa học là Piper lolot, thuộc họ  hồ tiêu  (Piperaceae) và có  kỹ thuật trồng cây  rất đơn giản. Lá lốt là loại rau quen thuộc và được dùng phổ biến trong các bữa ăn. Lá lốt thường được sử dụng ăn sống như các loại rau thơm hoặc làm rau gia vị khi nấu canh. Ngoài là rau ăn lá, lá lốt còn là vị thuốc chữa nhiều bệnh, khi dùng có thể dùng tươi, phơi hay sấy khô. Lá lốt có kỹ thuật trồng cây không quá khó Đây là loài cây thảo sống nhiều năm, thân có rãnh dọc. Lá đơn nguyên, mọc so le, hình tim, có màu xanh đậm, mặt lá bóng. Hoa mọc từ nách lá, cụm hoa bông, hoa đực và hoa cái khác gốc. Quả mọng chứa một hạt. Cây thường mọc hoang trong rừng, nơi ẩm ướt dọc các bãi cát ven suối và phổ biến ở Vi...

Đắk Lắk: Phát triển ồ ạt cây mắc ca sẽ rất nguy hiểm!

Đắk Lắk: Phát triển ồ ạt cây mắc ca sẽ rất nguy hiểm! Hiện tại, trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đã trồng được khoảng 110ha mắc ca, tuy nhiên năng suất của cây mắc ca tại đây đã cho thấy dấu hiệu không ổn định, có nơi năng suất rất thấp có nơi trồng cho hoa nhưng không đậu quả.  Vừa qua, ông Trần Hiếu - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk đã chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) khuyến cáo người dân không mở rộng diện tích cây mắc ca. Theo ông Hiếu, “qua khảo sát trên toàn bộ diện tích trồng mắc ca trên địa bàn tỉnh cho thấy, cây sinh trưởng tốt và cho hoa nhưng tỷ lệ cho quả thấp nên phát triển ồ ạt mắc ca sẽ rất nguy hiểm”.   Theo số liệu của Sở NN&PTNT tỉnh Đắk Lắk, hiện trên địa bàn tỉnh trồng khoảng 110ha mắc ca được trồng tại ba huyện là M’Đrắk (41ha), Krông Năng (30ha), Lắk (39,3ha) và khoảng 10ha trồng thử tại Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên. Tuy nhiên, về tình hình sinh trưởng, phát triển cây mắc ca tại Đắk Lắk là 1 điều đáng lo...