Chuyển đến nội dung chính

Khoa học góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng phế phẩm nông nghiệp

Khoa học góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng phế phẩm nông nghiệp

Các nhà khoa học Việt Nam đã ứng dụng công nghệ sinh học để tận dụng phế phẩm nông nghiệp...
Trong khuôn khổ Chương trình “Hỗ trợ ứng dụng và chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nông thôn và miền núi giai đoạn 2011-2015”, Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN thành phố Hải Phòng đã tiếp nhận các quy trình công nghệ do Viện Môi trường Nông nghiệp (Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam) chuyển giao để thực hiện dự án “Xây dựng mô hình ứng dụng công nghệ sinh học sản xuất chế phẩm vi sinh vật Compost maker xử lý phế phụ phẩm nông nghiệp tại Hải Phòng”. 
Ứng dụng công nghệ sinh học để sử dụng phế phẩm nông nghiệp

Ứng dụng công nghệ sinh học để sử dụng phế phẩm nông nghiệp


Dự án đã xây dựng được mô hình sản xuất chế phẩm vi sinh vật Compost maker đạt công suất 10 tấn/năm trên quy mô nhà xưởng 94,4 m2. Lượng chế phẩm sản xuất được trong thời gian triển khai dự án đảm bảo các yêu cầu về chất lượng và thời gian bảo quản là 2,2 tấn, vượt chỉ tiêu ban đầu (2 tấn).
Chế phẩm được ứng dụng xử lý 420 tấn phế phụ phẩm trồng trọt (rơm rạ) và 150 tấn phế phụ phẩm chăn nuôi (phân bò/lợn/gà) thành phân hữu cơ sinh học tại 3 xã Đồng Thái (huyện An Dương), Kiến Thiết (huyện Tiên Lãng) và An Thọ (huyện An Lão). Kết quả đã thu được 250,3 tấn phân hữu cơ sinh học giàu dinh dưỡng, tơi xốp, không chứa nấm mốc và đạt các tiêu chuẩn bắt buộc đối với phân bón hữu cơ sinh học theo quy định hiện hành.
Với mô hình sử dụng phân hữu cơ sinh học bón cho cây trồng nhằm tăng khả năng hấp thụ dinh dưỡng cho cây, tăng năng suất đã đạt các mục tiêu đề ra. Mô hình được áp dụng trên 3 đối tượng: rau, hoa và lúa với tổng diện tích 3 ha. Trên cây rau (su hào và cải ngọt), mô hình cho năng suất cao hơn sản xuất đại trà từ 1,16-1,2 lần. Đối với hoa lily giống Sorbonne thương phẩm, mô hình cho cây sinh trưởng và phát triển tốt, các chỉ tiêu về năng suất, chất lượng (số hoa/cây, tỷ lệ nở hoa, độ bền hoa tự nhiên, đường kính hoa,…) đều cao hơn so với đại trà. Trên cây lúa, phân bón hữu cơ sinh học có vai trò giữ ấm chân mạ, thúc đẩy sinh trưởng, giúp thân cây cứng, bộ lá khỏe, hạn chế sâu bệnh gây hại khi gặp điều kiện thời tiết bất thuận.
Theo những số liệu tổng hợp được đưa ra, cả 3 mô hình đều mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt, bên cạnh đó là những hiệu quả về xã hội, môi trường. Việc sử dụng phân hữu cơ sinh học bón cho cây trồng đã hạn chế được lượng phân hóa học sử dụng trong nông nghiệp, từ đó tác động tích cực tới môi trường sinh thái. Dự án đã giúp người dân chủ động sản xuất được nguồn phân hữu cơ sinh học tại chỗ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, đồng thời tạo thêm công ăn việc làm cho một bộ phận lao động. Dự án cũng đã đào tạo được 4 kỹ thuật viên cơ sở trên địa bàn triển khai các mô hình.
Với những hiệu quả thiết thực và tính ứng dụng cao, dự án được Hội đồng khoa học đánh giá xếp loại xuất sắc và khuyến khích nhân rộng

Bài đăng phổ biến từ blog này

Biến đổi khi hậu: Nguy cơ xóa sổ ngành nông nghiệp Việt

Biến đổi khi hậu: Nguy cơ xóa sổ ngành nông nghiệp Việt Chỉ cần mực nước biển dâng cao thêm 1m, diện tích đất trồng lúa sẽ giảm đi một nửa, từ 4 triệu ha xuống chỉ còn 2 triệu ha   Những tháng cuối năm 2015, người ta nói nhiều đến việc Cộng đồng Kinh tế ASEAN sẽ giúp Việt Nam tăng trưởng GDP thêm 7%, hay Hiệp định TPP có thể kích GDP lên 10%. Nhưng ít ai để ý rằng biến đổi khí hậu đang đều đặn làm Việt Nam mất đi 5% GDP mỗi năm, tương đương khoảng 15 tỉ USD. Thực tế, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu sẽ toàn diện và sâu rộng đến mọi ngõ ngách của nền kinh tế hơn bất kỳ hiệp định thương mại nào, từ nông nghiệp, thủy sản, công nghiệp cho đến cơ sở hạ tầng. Kéo theo đó là nguy cơ mất việc làm hàng loạt của 53% lực lượng lao động Việt Nam.   Bốc hơi 22% lượng nông nghiệp Biến đổi khí hậu sẽ ảnh hưởng đến an ninh lương thực, dinh dưỡng quốc gia và toàn ngành nông nghiệp nghiêm trọng hơn bất cứ cuộc khủng hoảng kinh t...

Cách trồng và chăm sóc cây lá lốt trong chậu

Cách trồng và chăm sóc cây lá lốt trong chậu Xuất hiện trong nhiều món ăn quen thuộc và có nhiều tác dụng khác nhau nên lá lốt được trồng ở khắp nơi. Người dân chỉ cần chú ý theo một số kỹ thuật trồng cây dưới đây là có thể tự cung cấp rau cho gia đình. Cây lá lốt có tên khoa học là Piper lolot, thuộc họ  hồ tiêu  (Piperaceae) và có  kỹ thuật trồng cây  rất đơn giản. Lá lốt là loại rau quen thuộc và được dùng phổ biến trong các bữa ăn. Lá lốt thường được sử dụng ăn sống như các loại rau thơm hoặc làm rau gia vị khi nấu canh. Ngoài là rau ăn lá, lá lốt còn là vị thuốc chữa nhiều bệnh, khi dùng có thể dùng tươi, phơi hay sấy khô. Lá lốt có kỹ thuật trồng cây không quá khó Đây là loài cây thảo sống nhiều năm, thân có rãnh dọc. Lá đơn nguyên, mọc so le, hình tim, có màu xanh đậm, mặt lá bóng. Hoa mọc từ nách lá, cụm hoa bông, hoa đực và hoa cái khác gốc. Quả mọng chứa một hạt. Cây thường mọc hoang trong rừng, nơi ẩm ướt dọc các bãi cát ven suối và phổ biến ở Vi...

Đắk Lắk: Phát triển ồ ạt cây mắc ca sẽ rất nguy hiểm!

Đắk Lắk: Phát triển ồ ạt cây mắc ca sẽ rất nguy hiểm! Hiện tại, trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đã trồng được khoảng 110ha mắc ca, tuy nhiên năng suất của cây mắc ca tại đây đã cho thấy dấu hiệu không ổn định, có nơi năng suất rất thấp có nơi trồng cho hoa nhưng không đậu quả.  Vừa qua, ông Trần Hiếu - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk đã chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) khuyến cáo người dân không mở rộng diện tích cây mắc ca. Theo ông Hiếu, “qua khảo sát trên toàn bộ diện tích trồng mắc ca trên địa bàn tỉnh cho thấy, cây sinh trưởng tốt và cho hoa nhưng tỷ lệ cho quả thấp nên phát triển ồ ạt mắc ca sẽ rất nguy hiểm”.   Theo số liệu của Sở NN&PTNT tỉnh Đắk Lắk, hiện trên địa bàn tỉnh trồng khoảng 110ha mắc ca được trồng tại ba huyện là M’Đrắk (41ha), Krông Năng (30ha), Lắk (39,3ha) và khoảng 10ha trồng thử tại Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên. Tuy nhiên, về tình hình sinh trưởng, phát triển cây mắc ca tại Đắk Lắk là 1 điều đáng lo...