Chuyển đến nội dung chính

Đào tạo nghề cho lao động nông thôn: Chọn mỗi địa phương từ 1-3 cây, con đặc sản

Đào tạo nghề cho lao động nông thôn: Chọn mỗi địa phương từ 1-3 cây, con đặc sản


Đó là ý kiến chung của nhiều đại biểu được đưa ra tại Hội nghị sơ kết công tác Đào tạo nghề cho lao động nông thôn do Bộ NNPTNT tổ chức ngày 7.5 tại Hà Nội.

Theo báo cáo của Bộ NNPTNT, trong giai đoạn từ 2010 -2013, đã có 662.828 lao động nông thôn được đào tạo nghề, đạt trên 50% mục tiêu của Đề án. Thông qua chương trình này đã tạo được sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị xã hội và người lao động về vai trò quan trọng của dạy nghề cho lao động nông thôn đối với phát triển nguồn nhân lực nông thôn, góp phần xoá đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống cho người dân, phát triển kinh tế xã hội và xây dựng nông thôn mới.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, Bộ NNPTNT cũng thừa nhận, công tác đào tạo nghề cho lao động ở nông thôn còn thiếu định hướng, chưa gắn với chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và chủ trương tái cơ cấu ngành nông nghiệp; hiện đào tạo nghề vẫn chủ yếu tập trung vào các nghề cũ, chưa tạo được nghề mới; chưa gắn với công ty, doanh nghiệp, hợp tác xã; nội dung chương trình, phương thức tổ chức lớp, chính sách hỗ trợ người học còn có nhiều điểm tồn tại, chưa phù hợp.


Đao-tao-nghe-cho-lao-đong-nong-thon-(1).jpg
Vườn bưởi trĩu quả tại làng Phú Diễn, Bắc Từ Liêm, Hà Nội. (Ảnh minh hoạ)

Ông Lê Trọng Quảng - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lai Châu cho biết, hiện công tác đào tạo nghề chưa thực sự xuất phát từ quy hoạch phát triển kinh tế của từng địa phương. Cơ cấu sản xuất nông nghiệp của Lai Châu chủ lực là cây cao su, chè, lúa. Tuy nhiên, lại chưa có chương trình mở lớp đào tạo trồng, khai thác và chế biến cao su, chè. Theo ông Quảng, đào tạo nghề cho lao động nông thôn là cần tập trung vào những sản phẩm chủ lực của địa phương chứ không chỉ đào tạo theo hình thức như hiện nay”.

Cùng chung nhận định trên, ông Nguyễn Anh Cương - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương cho biết, việc đào tạo nghề cho lao động nông thôn là hết sức cần thiết nhưng hiện giáo trình, giáo án rất nhiều mà vẫn có nhiều lĩnh vực chưa theo kịp những mong muốn của người dân đang cần.

Họ cần có kỹ thuật trồng lúa, trồng vải thiều, rau xanh có năng suất cao trên cùng một diện tích nhưng cũng cần được đào tạo về thị trường để tiêu thụ được sản phẩm, tránh tình trạng được mùa, mất giá. Do đó, đào tạo nghề cần đi vào cụ thể và gắn với từng nhiệm vụ của từng địa phương, gắn với xây dựng nông thôn mới.

Phát biểu tại Hội nghị, Bộ trưởng Bộ NNPTNT Cao Đức Phát nhấn mạnh, hiện nay, cứ để làm theo kiểu ai thích làm gì thì làm sẽ tạo nên một nền nông nghiệp kiểu “hàng xén”, chất lượng không cao, giá cả luôn bị bấp bênh.

Đề nghị mỗi xã chỉ chọn từ 1-3 cây, con chủ lực, địa phương nào đã có quy hoạch thành vùng sản xuất nông nghiệp tập trung thì đào tạo nghề cũng tập trung vào sản xuất các mặt hàng đó. Đào tạo nghề cho mỗi người nông dân phải giúp họ có việc làm hoặc nâng cao thu nhập trong sản xuất nông nghiệp, phải giúp họ sống được với nghề đã học.

Bài đăng phổ biến từ blog này

Hồ tiêu đối mặt rủi ro

Hồ tiêu đối mặt rủi ro Giá tăng cao khiến diện tích trồng hồ tiêu tăng theo ồ ạt - cũng đồng nghĩa với việc mặt hàng này phải đối mặt với những rủi ro về thị trường tiêu thụ trong tương lai. Giá tăng vượt ngưỡng kỷ lục Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam (VPA) cho biết, vượt qua những khó khăn về thiên tai, sâu bệnh và tình hình thương mại toàn cầu có chiều hướng suy giảm, ngành hồ tiêu Việt Nam đã có những phát triển vượt bậc trong năm 2014. Nông dân thăm vườn tiêu sạch ở huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai. Ảnh: Thuận Hải Theo đó, sản lượng xuất khẩu hồ tiêu niên vụ 2014 đạt gần 156.400 tấn, tăng hơn 13% so với 2013 và chiếm 50% thị phần xuất khẩu hồ tiêu toàn cầu. Kim ngạch xuất khẩu đạt mức 1,2 tỷ USD, tăng 34,7% so với năm 2014, mức giá bình quân đạt 7.738USD/tấn, tăng hơn 1.000USD/tấn so với cùng kỳ năm trước. Đây cũng là năm đầu tiên hồ tiêu Việt Nam tham gia vào nhóm các mặt hàng xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD. Ông Đỗ Hà Nam – Chủ tịch VPA cho biết, giá tiêu tại các tỉnh đã đạt mứ...

Doanh nghiệp Nhật Bản tìm cơ hội đầu tư nông nghiệp tại Hà Nam

Doanh nghiệp Nhật Bản tìm cơ hội đầu tư nông nghiệp tại Hà Nam Ảnh minh họa. (Nguồn: TTXVN)   Ngày 26/5, đoàn doanh nghiệp Nhật Bản do ông Naigai Katsurou, Công sứ Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam làm trưởng đoàn đã đến Hà Nam tìm hiểu cơ hội hợp tác, đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp. Đại diện Ngân hàng Mitsubishi Nhật Bản cho biết, tuy không trực tiếp tham gia sản xuất nông nghiệp, nhưng Ngân hàng Mitsubishi có những hoạt động phục vụ trong lĩnh vực nông nghiệp như giới thiệu cho các khách hàng của Ngân hàng tại Nhật Bản những ưu điểm của Việt Nam để các doanh nghiệp này đến đầu tư. Bên cạnh các doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp, Ngân hàng cũng giới thiệu các doanh nghiệp sản xuất các nông cụ, nhà kính, nhà lưới... Ngoài ra, Ngân hàng Mitsubishi cũng cung cấp vốn sản xuất cho các doanh nghiệp Nhật Bản và Việt Nam để đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, đồng thời mua lại các sản phẩm nông nghiệp của nông dân và doanh nghiệp Việt Nam. Theo ông Suzuki Too...

Cuộc sống khấm khá nhờ trồng sắn dây

Cuộc sống khấm khá nhờ trồng sắn dây Từ việc trồng sắn dây tự phát với quy mô nhỏ lẻ, năng suất thấp, nhiều hộ nông dân tại xã Thạnh Đông, H.Tân Châu (Tây Ninh) đã áp dụng kỹ thuật trồng mới mang lại hiệu quả kinh tế cao. Ông Phượng áp dụng cách trồng mới giúp sắn dây có sản lượng cao - Ảnh: Giang Phương Mày mò tìm cách trồng mới Theo thống kê của Hội Nông dân xã Thạnh Đông, diện tích sắn dây tại địa phương tăng dần trong những năm gần đây (hơn 10 ha, lớn nhất H.Tân Châu) xuất phát từ cách trồng mới do nông dân tìm tòi, nghiên cứu và áp dụng thành công. Một trong những hộ dân thực hiện thành công cách trồng sắn dây mới mang lại hiệu quả kinh tế cao là ông Đinh Xuân Phượng (ngụ ấp Thạnh Nghĩa, xã Thạnh Đông). Ông Phượng kể, gia đình ông có 0,2 ha đất dùng để trồng khoai mì. Mỗi vụ mì cho thu hoạch chỉ khoảng 6 triệu đồng (chưa kể công nhà tự bỏ ra chăm sóc). Thấy lợi nhuận từ cây mì thấp hơn nhiều so với...