Chuyển đến nội dung chính

Đầu tư cho nghiên cứu phát triển nông nghiệp: Thay cách “đặt hàng” nhà khoa học

Đầu tư cho nghiên cứu phát triển nông nghiệp: Thay cách “đặt hàng” nhà khoa học

Theo lý giải Uỷ ban Khoa học công nghệ và môi trường của Quốc hội, nguyên nhân của những tồn tại, yếu kém trong nghiên cứu khoa học nông nghiệp là do tư duy bao cấp còn nặng nề, đầu tư nhỏ giọt và dàn trải nên vừa lãng phí ngân sách Nhà nước, vừa không tạo ra đột phá...


“Bám” nhu cầu thị trường
Theo Trung tâm Khảo kiểm nghiệm giống, sản phẩm cây trồng quốc gia (Bộ NNPTNT), những giống đang canh tác có quy mô diện tích từ 50.000ha trở lên chủ yếu là giống của 10 - 20 năm trước, đặc biệt là các giống lúa thuần, giống rau, điều, hồ tiêu, đậu tương… Sở dĩ bà con vẫn phải “bám” vào những giống đó là do đề tài nghiên cứu giống mới tuy nhiều, nhưng thực ra nông dân vẫn không hào hứng phát triển vì những giống đó không nổi bật hơn mấy so với giống cũ. Chẳng hạn, ở miền Bắc hơn 20 năm qua vẫn chưa có giống lúa nào vượt được Bắc thơm 7. Một số giống có thể hơn về năng suất, nhưng lại thua xa về chất lượng, vì thế bà con vẫn thích cấy.



Bà Trâm cùng các học trò là những thạc sĩ ra đồng cấy lúa.
Bà Trâm cùng các học trò là những thạc sĩ ra đồng cấy lúa.

TS Nguyễn Văn Liễu - Vụ trưởng Vụ KHCN các ngành kinh tế kỹ thuật (Bộ KHCN) cho rằng: “Trong điều kiện kinh phí hạn hẹp, tôi cho rằng chúng ta cần tập trung nghiên cứu những giống lúa đáp ứng tốt yêu cầu gia tăng giá trị của ngành, phục vụ nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu, tức là tập trung nâng cao chất lượng, chứ không phải là năng suất như trước kia.

Một số ý kiến đề xuất, thị trường cần gì, chúng ta nghiên cứu cái đó. Nhà nước phải mạnh dạn đặt hàng một số giống tốt, thậm chí có thể chi tới 50 tỷ đồng để các nhà khoa học tạo ra những giống lúa vừa năng suất cao, kháng sâu bệnh, lại thơm ngon. PGS-TS Tạ Minh Sơn- nguyên quyền Viện trưởng Viện KHKT nông nghiệp Việt Nam- tác giả của nhiều bộ giống lúa được bà con ưa chuộng như Xi21, Xi23 cho rằng: “Thực tế, trước khi nghiên cứu, các nhà khoa học cần nghiên cứu xem bà con nông dân đang cần cái gì. Theo tôi, người nông dân hiện đang cần các giống ngắn ngày như ở đồng bằng sông Cửu Long, bà con ưa các giống có thời gian sinh trưởng 80-85 ngày, còn ở miền Bắc là 90-95 ngày, những giống trên 100 ngày bây giờ không ai lựa chọn cả”.

Ít tiền vẫn thành công
Theo thống kê chưa đầy đủ, đến nay cả nước mới có hơn 20 giống lúa thuần được bán bản quyền với tổng giá trị hơn 11 tỷ đồng, trung bình hơn 500 triệu đồng/giống; gần 10 giống lúa lai đã bán bản quyền với tổng giá trị gần 19 tỷ đồng; 10 giống ngô với khoảng 30 tỷ đồng và 1 giống lạc trị giá 500 triệu đồng. Trong đó, trường hợp của PGS-TS Nguyễn Thị Trâm (Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội) là một điển hình.

Chúng tôi đến Viện Nghiên cứu và phát triển cây trồng (Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội) khi PGS -TS Nguyễn Thị Trâm đang cùng các học trò là những thạc sĩ, tiến sĩ ra đồng cấy 500 loại giống lúa F1 cho quá trình chọn tạo giống lúa mới. Bà Trâm cho biết, nếu như các viện nghiên cứu của các bộ, ngành được ưu ái cấp đất, đầu tư thiết bị, trả lương cán bộ, nhân viên... thì tại Viện Nghiên cứu và phát triển cây trồng đều do bà bỏ tiền túi ra đầu tư.

Kể lại chuyện giống lúa TH3-3 bán được 10 tỷ đồng, bà Trâm cho biết, khi đó bà vừa làm giáo viên, vừa nghiên cứu. Giống TH3-3 bà Trâm làm từ năm 1994, mãi 8 năm sau mới được công nhận sản xuất thử. Dù vậy, ban đầu giống TH3-3 chẳng có ai mua, đích thân bà phải đem giống đi bán bằng cách liên hệ với các HTX, những nông dân bà từng gặp… để mời sản xuất thử, đồng thời ký hợp đồng, nếu hỏng bà sẵn sàng đền. Sau khi bán bản quyền giống lúa TH3-3 cho một doanh nghiệp được 10 tỷ đồng, trừ mọi chi phí, bà lãi 3 tỷ đồng. Từ đó đến nay, bà Trâm đã bán thêm được 3 giống lúa, trong đó TH3-4 giá 700 triệu đồng, TH3-5 giá 4,2 tỷ đồng và 1 giống chuyển giao theo hình thức cổ phần với doanh nghiệp. Bà Trâm khẳng định: “Phần lớn người ta làm đề tài nghiên cứu để được công nhận… là người ta, còn tôi khi nghiên cứu thấy lúa tốt thì không thể dừng lại. Nghiên cứu là phải gắn với thực tế, phải có kết quả thật chứ không dừng lại ở lý thuyết hay nghiệm thu xong thì cất vào… tủ”.

Cũng theo bà Trâm, để nghiên cứu ra một giống lúa lai mới, chi phí trung bình khoảng 3 tỷ đồng, còn lúa thuần khoảng 1 tỷ đồng. “Tôi cho rằng đã làm nghiên cứu thì ý tưởng phải gắn với nhu cầu thực tế và theo đuổi ý tưởng đến cùng. Quan trọng nhất là nhà khoa học phải có đam mê, có tâm, còn nếu làm mà chỉ để lấy đề tài, dự án thôi thì thật lãng phí” – bà Trâm chia sẻ.


47.000 cán bộ nghiên cứu, chuyển giao
Theo thống kê sơ bộ, hệ thống nghiên cứu KHCN của Bộ NNPTNT hiện gồm 11 viện chuyên đề và viện vùng; 4 viện quy hoạch; 39 trường đại học, cao đẳng. Lực lượng cán bộ trong các lĩnh vực từ giảng dạy, nghiên cứu, chuyển giao là gần 11.000 người, chưa kể hơn 36.000 người thuộc hệ thống khuyến nông cũng tham gia vào công tác nghiên cứu khoa học, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, giống mới… Tiền trả lương hàng năm là 350 tỷ đồng, chưa kể tiền phân bổ theo đề tài.

Trong số 11.000 cán bộ, có rất ít người giỏi còn làm nhà nước, mà đều chuyển ra ngoài để làm. Một người từng làm cho viện nghiên cứu nhà nước nói, có một thực trạng là không phải các nhà khoa học không nghiên cứu ra cái gì, mà họ nghiên cứu ra rồi “giấu”, sau đó khi về hưu hoặc bỏ ra ngoài làm họ mới mang đề tài để bán bản quyền hoặc thành lập doanh nghiệp.

Bài đăng phổ biến từ blog này

Hồ tiêu đối mặt rủi ro

Hồ tiêu đối mặt rủi ro Giá tăng cao khiến diện tích trồng hồ tiêu tăng theo ồ ạt - cũng đồng nghĩa với việc mặt hàng này phải đối mặt với những rủi ro về thị trường tiêu thụ trong tương lai. Giá tăng vượt ngưỡng kỷ lục Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam (VPA) cho biết, vượt qua những khó khăn về thiên tai, sâu bệnh và tình hình thương mại toàn cầu có chiều hướng suy giảm, ngành hồ tiêu Việt Nam đã có những phát triển vượt bậc trong năm 2014. Nông dân thăm vườn tiêu sạch ở huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai. Ảnh: Thuận Hải Theo đó, sản lượng xuất khẩu hồ tiêu niên vụ 2014 đạt gần 156.400 tấn, tăng hơn 13% so với 2013 và chiếm 50% thị phần xuất khẩu hồ tiêu toàn cầu. Kim ngạch xuất khẩu đạt mức 1,2 tỷ USD, tăng 34,7% so với năm 2014, mức giá bình quân đạt 7.738USD/tấn, tăng hơn 1.000USD/tấn so với cùng kỳ năm trước. Đây cũng là năm đầu tiên hồ tiêu Việt Nam tham gia vào nhóm các mặt hàng xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD. Ông Đỗ Hà Nam – Chủ tịch VPA cho biết, giá tiêu tại các tỉnh đã đạt mứ...

Doanh nghiệp Nhật Bản tìm cơ hội đầu tư nông nghiệp tại Hà Nam

Doanh nghiệp Nhật Bản tìm cơ hội đầu tư nông nghiệp tại Hà Nam Ảnh minh họa. (Nguồn: TTXVN)   Ngày 26/5, đoàn doanh nghiệp Nhật Bản do ông Naigai Katsurou, Công sứ Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam làm trưởng đoàn đã đến Hà Nam tìm hiểu cơ hội hợp tác, đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp. Đại diện Ngân hàng Mitsubishi Nhật Bản cho biết, tuy không trực tiếp tham gia sản xuất nông nghiệp, nhưng Ngân hàng Mitsubishi có những hoạt động phục vụ trong lĩnh vực nông nghiệp như giới thiệu cho các khách hàng của Ngân hàng tại Nhật Bản những ưu điểm của Việt Nam để các doanh nghiệp này đến đầu tư. Bên cạnh các doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp, Ngân hàng cũng giới thiệu các doanh nghiệp sản xuất các nông cụ, nhà kính, nhà lưới... Ngoài ra, Ngân hàng Mitsubishi cũng cung cấp vốn sản xuất cho các doanh nghiệp Nhật Bản và Việt Nam để đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, đồng thời mua lại các sản phẩm nông nghiệp của nông dân và doanh nghiệp Việt Nam. Theo ông Suzuki Too...

Cuộc sống khấm khá nhờ trồng sắn dây

Cuộc sống khấm khá nhờ trồng sắn dây Từ việc trồng sắn dây tự phát với quy mô nhỏ lẻ, năng suất thấp, nhiều hộ nông dân tại xã Thạnh Đông, H.Tân Châu (Tây Ninh) đã áp dụng kỹ thuật trồng mới mang lại hiệu quả kinh tế cao. Ông Phượng áp dụng cách trồng mới giúp sắn dây có sản lượng cao - Ảnh: Giang Phương Mày mò tìm cách trồng mới Theo thống kê của Hội Nông dân xã Thạnh Đông, diện tích sắn dây tại địa phương tăng dần trong những năm gần đây (hơn 10 ha, lớn nhất H.Tân Châu) xuất phát từ cách trồng mới do nông dân tìm tòi, nghiên cứu và áp dụng thành công. Một trong những hộ dân thực hiện thành công cách trồng sắn dây mới mang lại hiệu quả kinh tế cao là ông Đinh Xuân Phượng (ngụ ấp Thạnh Nghĩa, xã Thạnh Đông). Ông Phượng kể, gia đình ông có 0,2 ha đất dùng để trồng khoai mì. Mỗi vụ mì cho thu hoạch chỉ khoảng 6 triệu đồng (chưa kể công nhà tự bỏ ra chăm sóc). Thấy lợi nhuận từ cây mì thấp hơn nhiều so với...