Chuyển đến nội dung chính

Chế phẩm vi khuẩn nốt sần giúp tăng năng suất cho cây đậu phụng

Chế phẩm vi khuẩn nốt sần giúp tăng năng suất cho cây đậu phụng


Chế phẩm vi khuẩn nốt sần giúp tăng năng suất cho cây đậu phụng; đồng thời góp phần cải tạo đất và bảo vệ môi trường.

Các nhà nghiên cứu thuộc Khoa Nông học, Trường Đại học Nông lâm - Đại học Huế đã nghiên cứu và sản xuất thành công chế phẩm vi khuẩn nốt sần giúp tăng năng suất cho cây đậu phụng; đồng thời góp phần cải tạo đất và bảo vệ môi trường.
Chế phẩm vi khuẩn nốt sần hoạt động theo cơ chế: khi nhiễm vào sẽ giúp duy trì và cải thiện những tính chất hóa học của đất trồng như: làm tăng hàm lượng mùn, lân, đạm...; đồng thời còn làm tăng số lượng vi sinh vật có ích trong đất trồng đậu phụng để phân giải các chất giúp cây phát triển.
Theo nghiên cứu, khi bón chế phẩm vi khuẩn nốt sần, tổng số vi khuẩn có ích cho sự phát triển của cây đậu phụng tăng từ 1,13 đến 1,42 lần; vi khuẩn nốt sần tăng từ 1,16 đến 2,99 lần; vi sinh vật phân giải lân trong đất tăng từ 1,7 đến 2,61 lần.
 

Chế phẩm từ vi khuẩn iúp tăng năng suất đậu phụng lên hơn 30%
Chế phẩm từ vi khuẩn iúp tăng năng suất đậu phụng lên hơn 30%

Hiện nay chế phẩm vi khuẩn nốt sần được phối chế làm 2 loại từ chủng vi khuẩn nốt sần NH1 và PC phân lập. Cả hai đều có công dụng tương đương nhau và đã được sản xuất.
Các nhà nghiên cứu khuyến cáo, chế phẩm vi khuẩn nốt sần sẽ cho hiệu quả tốt nhất khi bón với liều lượng từ 30 đến 35kg trên mỗi héc-ta đất trồng đậu phụng. Bên cạnh đó, trên nền đất trồng bón thêm phân chuồng, vôi và một lượng nhỏ các phân bón khác. Ngoài ở Thừa Thiên - Huế, chế phẩm vi khuẩn nốt sần cũng thích hợp với điều kiện đất trồng đậu phụng của các tỉnh, thành miền Trung.
Theo các nhà nghiên cứu, việc ứng dụng chế phẩm vi khuẩn nốt sần đã được thực hiện tại những vùng trồng đậu phụng của Thừa Thiên - Huế.
Với việc bón 35kg chế phẩm vi khuẩn nốt sần cho mỗi héc-ta đất trồng đậu phụng cùng với một số loại phân bón khác đã giúp tăng năng suất đậu phụng lên hơn 30%, đậu phụng chắc củ hơn, hình thức, khối lượng củ cũng đồng đều hơn.
Bên cạnh đó, có một cách khác để tăng năng suất cây đậu phụng là dùng than sinh học. Than sinh học Biochar không những làm tăng năng suất cây đậu phụng trên đất cát mà còn giữ ẩm, giữ nguồn vi sinh vật có lợi trong đất. Đó là kết quả quan trọng của dự án nghiên cứu thử nghiệm dùng Biochar tại xã Cát Hiệp (Phù Cát), do tiến sĩ (TS) Hoàng Minh Tâm, nguyên Viện trưởng Viện KHKT Nông nghiệp duyên hải Nam Trung bộ, thực hiện.
Than sinh học giữ được thành phần dinh dưỡng có trong vật tạo ra nó (rơm, rạ, trấu…), có độ phân hủy chậm, làm chậm quá trình thoái hóa đất, giảm bạc màu, chống chua cho đất, giữ ẩm, tạo điều kiện cho vi sinh vật trong đất phát triển giúp cải tạo đất. Sử dụng Biochar sẽ tạo ra sản phẩm sạch, chi phí đầu tư thấp và tiết kiệm một lượng nước tưới đáng kể.
Than Biochar còn tạo ra được từ vỏ hạt cà phê, rơm rạ, cành nhánh lá cây, rác hữu cơ… Nguồn nguyên liệu này tại tỉnh ta rất dồi dào. Than Biochar còn có thể dùng để bón cho nhiều loại cây trồng khác như lúa, mì, bắp hay các loại rau màu, cây công nghiệp, cây trồng rừng. Tại nhiều tỉnh, thành ở nước ta, người dân đã tự sản xuất Biochar từ phụ phẩm nông nghiệp để bón cho cây trồng và bán rộng rãi trên thị trường
(Tin Tây Đô - Nguồn VietQ)

Bài đăng phổ biến từ blog này

Biến đổi khi hậu: Nguy cơ xóa sổ ngành nông nghiệp Việt

Biến đổi khi hậu: Nguy cơ xóa sổ ngành nông nghiệp Việt Chỉ cần mực nước biển dâng cao thêm 1m, diện tích đất trồng lúa sẽ giảm đi một nửa, từ 4 triệu ha xuống chỉ còn 2 triệu ha   Những tháng cuối năm 2015, người ta nói nhiều đến việc Cộng đồng Kinh tế ASEAN sẽ giúp Việt Nam tăng trưởng GDP thêm 7%, hay Hiệp định TPP có thể kích GDP lên 10%. Nhưng ít ai để ý rằng biến đổi khí hậu đang đều đặn làm Việt Nam mất đi 5% GDP mỗi năm, tương đương khoảng 15 tỉ USD. Thực tế, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu sẽ toàn diện và sâu rộng đến mọi ngõ ngách của nền kinh tế hơn bất kỳ hiệp định thương mại nào, từ nông nghiệp, thủy sản, công nghiệp cho đến cơ sở hạ tầng. Kéo theo đó là nguy cơ mất việc làm hàng loạt của 53% lực lượng lao động Việt Nam.   Bốc hơi 22% lượng nông nghiệp Biến đổi khí hậu sẽ ảnh hưởng đến an ninh lương thực, dinh dưỡng quốc gia và toàn ngành nông nghiệp nghiêm trọng hơn bất cứ cuộc khủng hoảng kinh t...

Cách trồng và chăm sóc cây lá lốt trong chậu

Cách trồng và chăm sóc cây lá lốt trong chậu Xuất hiện trong nhiều món ăn quen thuộc và có nhiều tác dụng khác nhau nên lá lốt được trồng ở khắp nơi. Người dân chỉ cần chú ý theo một số kỹ thuật trồng cây dưới đây là có thể tự cung cấp rau cho gia đình. Cây lá lốt có tên khoa học là Piper lolot, thuộc họ  hồ tiêu  (Piperaceae) và có  kỹ thuật trồng cây  rất đơn giản. Lá lốt là loại rau quen thuộc và được dùng phổ biến trong các bữa ăn. Lá lốt thường được sử dụng ăn sống như các loại rau thơm hoặc làm rau gia vị khi nấu canh. Ngoài là rau ăn lá, lá lốt còn là vị thuốc chữa nhiều bệnh, khi dùng có thể dùng tươi, phơi hay sấy khô. Lá lốt có kỹ thuật trồng cây không quá khó Đây là loài cây thảo sống nhiều năm, thân có rãnh dọc. Lá đơn nguyên, mọc so le, hình tim, có màu xanh đậm, mặt lá bóng. Hoa mọc từ nách lá, cụm hoa bông, hoa đực và hoa cái khác gốc. Quả mọng chứa một hạt. Cây thường mọc hoang trong rừng, nơi ẩm ướt dọc các bãi cát ven suối và phổ biến ở Vi...

Đắk Lắk: Phát triển ồ ạt cây mắc ca sẽ rất nguy hiểm!

Đắk Lắk: Phát triển ồ ạt cây mắc ca sẽ rất nguy hiểm! Hiện tại, trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đã trồng được khoảng 110ha mắc ca, tuy nhiên năng suất của cây mắc ca tại đây đã cho thấy dấu hiệu không ổn định, có nơi năng suất rất thấp có nơi trồng cho hoa nhưng không đậu quả.  Vừa qua, ông Trần Hiếu - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk đã chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) khuyến cáo người dân không mở rộng diện tích cây mắc ca. Theo ông Hiếu, “qua khảo sát trên toàn bộ diện tích trồng mắc ca trên địa bàn tỉnh cho thấy, cây sinh trưởng tốt và cho hoa nhưng tỷ lệ cho quả thấp nên phát triển ồ ạt mắc ca sẽ rất nguy hiểm”.   Theo số liệu của Sở NN&PTNT tỉnh Đắk Lắk, hiện trên địa bàn tỉnh trồng khoảng 110ha mắc ca được trồng tại ba huyện là M’Đrắk (41ha), Krông Năng (30ha), Lắk (39,3ha) và khoảng 10ha trồng thử tại Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên. Tuy nhiên, về tình hình sinh trưởng, phát triển cây mắc ca tại Đắk Lắk là 1 điều đáng lo...