Chuyển đến nội dung chính

12,4 tỷ USD nhập khẩu máy móc, vật tư nông nghiệp: Trớ trêu và yếu kém!

12,4 tỷ USD nhập khẩu máy móc, vật tư nông nghiệp: Trớ trêu và yếu kém!


12,4-ty-USD-nhap-khau-may-moc,-vat-tu-nong-nghiep-(1).jpg
 
Xung quanh việc mỗi năm Việt Nam phải chi 12,4 tỷ USD để nhập khẩu vật tư nông nghiệp phục vụ sản xuất, ông Nguyễn Trí Ngọc - Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển công nghệ nông lâm nghiệp Thành Tây, Tổng Thư ký Tổng hội NNPTNT Việt Nam cho biết đây là một điều trớ trêu, bộc lộ sự yếu kém của cả chuỗi giá trị sản phẩm nông sản.
 
Những năm gần đây Việt Nam đã trở thành một trong những quốc gia có nhiều loại nông sản xuất khẩu lớn nhất nhì thế giới, song có một nghịch lý là hầu hết đầu vào cho sản xuất lại phải nhập khẩu. Ông nghĩ sao về điều này?
- Đến thời điểm này, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu nông sản với nhiều loại nông sản đứng thứ nhất, nhì thế giới như hồ tiêu, gạo, cà phê, hạt điều, cao su, rau quả… Tuy nhiên, có một điều trớ trêu là ngành nông nghiệp đang phải nhập khẩu rất nhiều vật tư đầu vào, trong đó ngành trồng trọt phải nhập phần lớn thuốc BVTV; máy móc, thiết bị nông nghiệp; giống cây trồng; phân bón.

Ngay cả cây ngô, mặc dù nước ta là nước nhiệt đới, có đủ điều kiện để trồng ngô phục vụ chăn nuôi song năm 2013, chúng ta vẫn phải nhập xấp xỉ 3 triệu tấn ngô, 8 tháng đầu năm nay cũng đã nhập trên 1 triệu tấn ngô hạt. Đây đúng là nghịch lý đối với một đất nước có nhiều điều kiện cả về tự nhiên, khí hậu, đất đai, con người cho trồng ngô nói riêng và phát triển nông nghiệp nói chung như Việt Nam.
 
Nhưng cũng có nhiều ý kiến cho rằng, chúng ta phải nhập vật tư như phân bón, thuốc BVTV là do trong nước không có nguyên liệu để sản xuất?
- Trước hết về phân bón, trước đây Việt Nam phải nhập khẩu rất nhiều, chủ yếu là urê, DAP… thì đến thời điểm này, sản xuất trong nước đã cơ bản đáp ứng đủ nhu cầu trên 10 triệu tấn/năm, riêng đạm thậm chí còn đang dư thừa và có xuất khẩu. Chúng ta chỉ còn phải nhập DAP, đạm sunphat để phục vụ sản xuất NPK, song cũng chỉ nhập khối lượng nhỏ. Trong tương lai, khi nhà máy sản xuất DAP ở Lào Cai hoàn thành thì chúng ta sẽ cơ bản không phải nhập khẩu phân bón nữa.
 
Ông Nguyễn Trí Ngọc 
Muốn thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn thành công, theo tôi nhất định chúng ta phải tìm cách giảm được chi phí đầu vào, gia tăng giá trị sản phẩm, tăng đầu tư cho chế biến sâu... Căn bệnh này phải được khắc phục từ gốc, phải “tái cấu trúc” lại. Muốn thế thì Nhà nước, ngành nông nghiệp và các ngành khác phải cùng vào cuộc, trước mắt là đẩy mạnh đầu tư cho KHCN và khuyến khích, hỗ trợ cho DN đầu tư vào nông nghiệp…”. 
 
Về thuốc BVTV, đây là loại hóa chất đặc biệt, chúng ta chưa sản xuất được nên sẽ còn phải nhập khẩu trong thời gian dài. Riêng về máy móc, thiết bị nông nghiệp thì đây là vấn đề hết sức nan giải.

Việc đầu tư cơ giới hóa là yếu tố vô cùng quan trọng nhằm tăng năng suất, giảm công lao động, giảm giá thành sản phẩm nông sản, nhưng rất tiếc là đến thời điểm này, ta vẫn bị phụ thuộc quá nhiều vào máy móc nhập từ nước ngoài do sản xuất trong nước chưa đáp ứng được.

Như ông vừa nói, sắp tới chúng ta sẽ không phải nhập phân bón nữa, nhưng theo số liệu thống kê của Bộ NNPTNT, chỉ trong 8 tháng qua Việt Nam đã nhập tới 2,57 triệu tấn phân bón các loại, kim ngạch lên tới hơn 800 triệu USD. Ông có nhận xét gì về điều này?
- Đúng là nếu căn cứ vào năng lực sản xuất của các nhà máy phân bón trong nước và cả các nhà máy sắp đi vào hoạt động thì chúng ta hoàn toàn có đủ phân bón phục vụ sản xuất.
Thế nhưng, thực tế phân bón nhập khẩu vẫn tràn vào nước ta, theo tôi đây có thể là sự cạnh tranh của các doanh nghiệp kinh doanh phân bón. Ngay cả với thuốc trừ sâu, gần 10 năm qua, để giúp nông dân giảm chi phí phun thuốc, tăng lợi nhuận, hạn chế ô nhiễm môi trường, ngành nông nghiệp đã khuyến cáo bà con sử dụng thuốc “1 phải, 5 giảm”, “3 giảm, 3 tăng”. Tuy nhiên khuyến cáo về sự độc hại của thuốc BVTV không đủ sức mạnh so với những quảng cáo hấp dẫn về cái lợi của việc dùng thuốc.
 
Việc lệ thuộc nhập khẩu vật tư đầu vào có phải là một trong những nguyên nhân dẫn đến giá thành sản xuất cao?
- Theo tính toán, khâu đầu vào cho ngành trồng trọt chiếm khoảng 30 - 40% giá trị sản phẩm. Rõ ràng nếu chúng ta phụ thuộc quá nhiều vào nhập khẩu vật tư đầu vào thì sẽ ảnh hưởng đến giá thành sản xuất, bởi việc nhập khẩu luôn đi kèm với những chi phí tăng thêm như thuế, phí vận chuyển...
Câu hỏi đặt ra là liệu Việt Nam có thể khắc phục được những yếu kém đó hay không? Trên thực tế, chúng ta đã và đang nỗ lực thực hiện những giải pháp để hạn chế nhập khẩu đầu vào, song vấn đề này rất cần có sự vào cuộc mạnh mẽ, quyết liệt của Nhà nước, doanh nghiệp và các bộ ngành.
Ví dụ về thuốc BVTV, trong tương lai cần phải phát triển lĩnh vực này thành ngành công nghiệp hóa chất, song mảng này lại thuộc quản lý của Bộ Công Thương chứ không riêng ngành nông nghiệp; tương tự, muốn phát triển lĩnh vực chế tạo máy móc thì cần phải có sự tham gia của ngành công nghiệp, sự đầu tư của lực lượng doanh nghiệp...
Xin cảm ơn ông!

Bài đăng phổ biến từ blog này

Biến đổi khi hậu: Nguy cơ xóa sổ ngành nông nghiệp Việt

Biến đổi khi hậu: Nguy cơ xóa sổ ngành nông nghiệp Việt Chỉ cần mực nước biển dâng cao thêm 1m, diện tích đất trồng lúa sẽ giảm đi một nửa, từ 4 triệu ha xuống chỉ còn 2 triệu ha   Những tháng cuối năm 2015, người ta nói nhiều đến việc Cộng đồng Kinh tế ASEAN sẽ giúp Việt Nam tăng trưởng GDP thêm 7%, hay Hiệp định TPP có thể kích GDP lên 10%. Nhưng ít ai để ý rằng biến đổi khí hậu đang đều đặn làm Việt Nam mất đi 5% GDP mỗi năm, tương đương khoảng 15 tỉ USD. Thực tế, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu sẽ toàn diện và sâu rộng đến mọi ngõ ngách của nền kinh tế hơn bất kỳ hiệp định thương mại nào, từ nông nghiệp, thủy sản, công nghiệp cho đến cơ sở hạ tầng. Kéo theo đó là nguy cơ mất việc làm hàng loạt của 53% lực lượng lao động Việt Nam.   Bốc hơi 22% lượng nông nghiệp Biến đổi khí hậu sẽ ảnh hưởng đến an ninh lương thực, dinh dưỡng quốc gia và toàn ngành nông nghiệp nghiêm trọng hơn bất cứ cuộc khủng hoảng kinh t...

Cách trồng và chăm sóc cây lá lốt trong chậu

Cách trồng và chăm sóc cây lá lốt trong chậu Xuất hiện trong nhiều món ăn quen thuộc và có nhiều tác dụng khác nhau nên lá lốt được trồng ở khắp nơi. Người dân chỉ cần chú ý theo một số kỹ thuật trồng cây dưới đây là có thể tự cung cấp rau cho gia đình. Cây lá lốt có tên khoa học là Piper lolot, thuộc họ  hồ tiêu  (Piperaceae) và có  kỹ thuật trồng cây  rất đơn giản. Lá lốt là loại rau quen thuộc và được dùng phổ biến trong các bữa ăn. Lá lốt thường được sử dụng ăn sống như các loại rau thơm hoặc làm rau gia vị khi nấu canh. Ngoài là rau ăn lá, lá lốt còn là vị thuốc chữa nhiều bệnh, khi dùng có thể dùng tươi, phơi hay sấy khô. Lá lốt có kỹ thuật trồng cây không quá khó Đây là loài cây thảo sống nhiều năm, thân có rãnh dọc. Lá đơn nguyên, mọc so le, hình tim, có màu xanh đậm, mặt lá bóng. Hoa mọc từ nách lá, cụm hoa bông, hoa đực và hoa cái khác gốc. Quả mọng chứa một hạt. Cây thường mọc hoang trong rừng, nơi ẩm ướt dọc các bãi cát ven suối và phổ biến ở Vi...

Đắk Lắk: Phát triển ồ ạt cây mắc ca sẽ rất nguy hiểm!

Đắk Lắk: Phát triển ồ ạt cây mắc ca sẽ rất nguy hiểm! Hiện tại, trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đã trồng được khoảng 110ha mắc ca, tuy nhiên năng suất của cây mắc ca tại đây đã cho thấy dấu hiệu không ổn định, có nơi năng suất rất thấp có nơi trồng cho hoa nhưng không đậu quả.  Vừa qua, ông Trần Hiếu - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk đã chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) khuyến cáo người dân không mở rộng diện tích cây mắc ca. Theo ông Hiếu, “qua khảo sát trên toàn bộ diện tích trồng mắc ca trên địa bàn tỉnh cho thấy, cây sinh trưởng tốt và cho hoa nhưng tỷ lệ cho quả thấp nên phát triển ồ ạt mắc ca sẽ rất nguy hiểm”.   Theo số liệu của Sở NN&PTNT tỉnh Đắk Lắk, hiện trên địa bàn tỉnh trồng khoảng 110ha mắc ca được trồng tại ba huyện là M’Đrắk (41ha), Krông Năng (30ha), Lắk (39,3ha) và khoảng 10ha trồng thử tại Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên. Tuy nhiên, về tình hình sinh trưởng, phát triển cây mắc ca tại Đắk Lắk là 1 điều đáng lo...