Chuyển đến nội dung chính

Phát triển cây lâm nghiệp

Phát triển cây lâm nghiệp


Nâng cao chất lượng giống cây trồng rừng là một trong những giải pháp quan trọng để thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp.
Phat-trien-cay-lam-nghiep-(1).JPG
Phát triển giống cây lâm nghiệp là nhiệm vụ cấp bách tái cơ cấu ngành lâm nghiệp

Vai trò của giống cây lâm nghiệp trong tái cơ cấu ngành
Nghị quyết số 06 của Bộ Chính trị ngày 10/11/1998 về một số vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn đã ghi rõ “Ưu tiên đầu tư cho nghiên cứu và áp dụng giống mới”. Trong Quyết định 18/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 5/2/2007 về phê duyệt chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2020 cũng đã chỉ rõ phải “Nghiên cứu phát triển rừng theo 2 hướng chính là cải tạo giống cây rừng và thực hiện các biện pháp lâm sinh”.
Nâng cao chất lượng giống cây trồng rừng là một trong những giải pháp quan trọng để thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp theo Quyết định 1565/QĐ-BNN-TCLN ngày 8/7/2014 của Bộ trưởng Bộ NN-PTNT.
Để nâng cao giá trị gia tăng của ngành, 2 nhiệm vụ cơ bản được đặt ra là: i) Nâng cao năng suất rừng đạt bình quân 15 m3/ha/năm và đến năm 2020 diện tích rừng trồng SX đạt khoảng 3,84 triệu ha; ii) Đưa tỷ lệ giống cây trồng lâm nghiệp mới được công nhận vào SX lên 60 - 70% vào năm 2020, đảm bảo cung cấp đủ giống có chất lượng, góp phần đưa năng suất rừng trồng tăng 10% vào năm 2015 và tăng 20% vào năm 2020 so với năm 2011.
Để thực hiện được hai nhiệm vụ cơ bản trên, việc ứng dụng KHCN trong lâm nghiệp và tăng cường công tác quản lý cần được đẩy mạnh, đặc biệt đối với lĩnh vực giống cây lâm nghiệp.

 
Những thành tựu nghiên cứu giống cây lâm nghiệp
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam mới được tổ chức và sắp xếp lại theo Quyết định số 2099/QĐ-TTg ngày 25/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ. Hiện nay, cơ cấu tổ chức của Viện gồm 7 Viện và Trung tâm nghiên cứu chuyên đề; 6 Viện và Trung tâm vùng.
Trải qua 53 năm xây dựng và phát triển, đến nay Viện đã đạt được nhiều thành tựu khoa học đáng kể về công tác cải thiện giống như đã tạo lập được một mạng lưới nghiên cứu giống cây lâm nghiệp rộng khắp trong cả nước. Đội ngũ cán bộ chủ chốt làm công tác giống được đào tạo bài bản và chuyên sâu từ các nước tiên tiến như Thụy Điển, Australia, Đức, Hungary...
Các cán bộ này có kiến thức, kĩ năng và trình độ ngoại ngữ tốt để hòa nhập với các nước trong khu vực, tạo lập được vị thế và uy tín đối với các tổ chức nghiên cứu và SX lâm nghiệp trong và ngoài nước.
Đối với nhóm cây trồng rừng chủ lực như keo, bạch đàn, thông, ngoài việc cải thiện theo năng suất và tính thích ứng, Viện đã và đang tập trung nghiên cứu các chỉ tiêu về chất lượng phù hợp cho từng mục đích sử dụng gỗ khác nhau và khả năng kháng sâu bệnh.
Trên cơ sở đánh giá các chỉ tiêu về tính chất cơ, vật lý của gỗ, hàm lượng cellulose và hiệu suất bột giấy theo từng gia đình và cá thể cây trội trong các khảo nghiệm giống trên nhiều vùng sinh thái khác nhau, Viện đã được Bộ NN-PTNT công nhận 146 giống tiến bộ kỹ thuật và giống quốc gia, chiếm hơn 90% số giống cây lâm nghiệp đã được Bộ công nhận.
Trong 146 giống này, có 19 giống quốc gia và 127 giống tiến bộ kỹ thuật. Các giống được công nhận đều có năng suất cao, biến động từ 20 - 40 m3/ha/năm. 
Cụ thể giống tràm lá dài xuất xứ 18960 trồng ở Long An đạt 40,0 m3/ha/năm; giống bạch đàn trắng kháng bệnh SM16 trồng ở Đồng Nai đạt 35,4 m3/ha/năm; các giống keo lai mới AH7 trồng ở Bình Dương đạt 34,9 m3/ha/năm. Các giống keo lá tràm AA9 và AA15 trồng ở Đồng Nai đạt 32 -33,6 m3/ha/năm.
Viện cũng đã hoạch định được chiến lược cải thiện giống dài hạn cho nhóm các loài cây trồng rừng chủ lực này và xây dựng được các rừng giống, vườn giống, vườn tập hợp giống công tác, vườn cây bố mẹ cố định và di động phục vụ lai tạo giống mới và cung cấp hạt giống chất lượng cao cho SX.
Kết quả là nhiều tổ hợp lai trong loài và khác loài đã được lai tạo, từ đó chọn lọc được nhiều dòng vô tính có sinh trưởng tốt và chất lượng gỗ phù hợp với các mục đích sử dụng gỗ giấy và gỗ xẻ.
Hiện nay, các dòng này đang khảo nghiệm đánh giá tại nhiều vùng sinh thái khác nhau. Việc đánh giá các khảo nghiệm này trong 2 - 3 năm sắp tới sẽ giúp chúng ta có thêm nhiều sự lựa chọn cho trồng rừng cung cấp nguyên liệu giấy hoặc gỗ xẻ.

 
Định hướng chiến lược nghiên cứu giống cây lâm nghiệp
Các hoạt động nghiên cứu, phát triển và SX giống cây lâm nghiệp trong thời gian tới sẽ được thực hiện theo hướng gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu chọn giống truyền thống với ứng dụng công nghệ sinh học, khoa học gỗ, lâm sinh và sâu bệnh rừng; nghiên cứu ứng dụng với công tác khuyến lâm.
Các lĩnh vực ưu tiên tạo bước đột phá trong công tác giống cây lâm nghiệp là chọn lọc, lai tạo giống có định hướng, tạo đa bội và con lai tam bội bất thụ cho các loài cây trồng rừng chủ lực có diện tích trồng rừng lớn, tập trung vào chọn tạo giống phù hợp cho từng vùng trọng điểm, theo từng mục tiêu sử dụng và sức chống chịu cho từng loài nghiên cứu.
Áp dụng một số công nghệ mới như chọn giống bằng các chỉ thị phân tử, biến nạp gene, tạo phôi nhân tạo, kích thích ra hoa sớm và mini-cutting… vào các chương trình cải thiện giống truyền thống nhằm nâng cao hiệu quả và rút ngắn chu kì chọn tạo giống.
Công tác nghiên cứu sẽ được tiến hành đồng bộ từ chọn tạo giống, nhân giống và biện pháp lâm sinh phù hợp trong kinh doanh rừng bền vững cho các loài cây trồng rừng chủ lực cung cấp gỗ lớn, gỗ giấy hoặc tăng sức chống chịu sâu bệnh và hạn hán.
Bên cạnh đó, việc khảo nghiệm mở rộng và xây dựng các mô hình trình diễn có hệ thống cho các giống mới được công nhận cũng sẽ được tăng cường thông qua thực hiện các dự án SX thử nghiệm và dự án khuyến lâm.
Đại biểu Quốc hội Hà Sỹ Đồng:
"Cần tăng cường đầu tư cho nghiên cứu và chuyển giao các giống mới vào SX cũng như tạo điều kiện để các cơ quan khoa học lâm nghiệp có thêm quỹ đất để xây dựng các hiện trường nghiên cứu lâu dài".
Các hoạt động nghiên cứu về nhân giống, đặc biệt là kỹ thuật nhân giống hàng loạt bằng công nghệ mô, hom, phục tráng và trẻ hóa chất lượng sinh lý của giống, vi ghép để dẫn dòng và xây dựng vườn giống… cũng sẽ được quan tâm đưa nhanh các giống được công nhận tới người trồng rừng.
Ngoài ra, cần tiếp tục chọn giống, nhân giống cho một số loài cây bản địa có tiềm năng gây trồng và cây lâm sản ngoài gỗ có giá trị cao.

 
Đổi mới công tác chuyển giao tiến bộ kỹ thuật vào SX
Các dự án giống phải tập trung SX và cung ứng giống gốc, giống có chất lượng cao. Viện đang đẩy mạnh xây dựng các vườn giống, rừng giống chất lượng cao, thiết lập ngân hàng hạt giống và cơ sở dữ liệu về nguồn gốc, chất lượng di truyền và khả năng thích nghi của các nguồn hạt và các dòng vô tính đang sử dụng nhằm cung cấp vật liệu giống tốt cho SX và cho mục đích nghiên cứu, bảo tồn và trao đổi giống quốc tế.
Viện đã phát triển một hệ thống thông tin quảng bá các giống tiến bộ kỹ thuật và giống quốc gia đã được công nhận trên các ấn phẩm, trên các trang website của Viện và Tổng cục Lâm nghiệp. Tích cực tham gia các hội chợ giống và hội thảo trên toàn quốc cũng như quốc tế nhằm quảng bá các giống mới và tiến bộ kỹ thuật lâm sinh tới người trồng rừng.
Viện đã và đang chỉ đạo các Viện và Trung tâm trực thuộc xây dựng các khu khảo nghiệm lâu dài tại các vùng, phối hợp chặt chẽ với Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, Trung tâm Khuyến nông các tỉnh và các công ty lâm nghiệp địa phương để xây dựng các mô hình trình diễn giống mới và các tiến bộ kỹ thuật mới để người trồng rừng có thể tham quan và học tập.
PGS.TS Võ Đại Hải
(GĐ Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam)
 

Bài đăng phổ biến từ blog này

Sâu bệnh lây lan mạnh trên lúa

Sâu bệnh lây lan mạnh trên lúa Theo Trung tâm Dự báo Khí tượng - Thủy văn T.Ư, nhiệt độ tại khu vực Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ đang nhích thêm từ 2 đến 3oC, lên ngưỡng 23 đến 26oC, nhiệt độ thấp nhất ở mức 17 đến 20oC và tiếp tục tăng thêm vào ngày mai (5-11). Theo dự báo, nhiều khả năng từ ngày 6 đến 7, Bắc Bộ sẽ tiếp tục đón thêm một đợt không khí lạnh mới, gây mưa nhỏ.   * Dịch bệnh trên cây trồng đang phát triển mạnh tại các tỉnh Nam Trung Bộ, bệnh khô vằn tiếp tục phát sinh gây hại nhẹ trên lúa gieo, giai đoạn đòng trỗ, chắc xanh. Sâu cuốn lá nhỏ tiếp tục phát sinh, gây hại với mức độ giảm trên lúa giai đoạn đẻ nhánh, làm đòng. Tại các tỉnh phía nam, bệnh đạo ôn trên lá gây hại trên trà lúa đông xuân sớm và trà lúa mùa. Ðầu tháng 11 là thời điểm thích hợp để xuống giống vụ đông xuân né rầy. Nông dân cần theo dõi bẫy đèn để xuống giống đồng loạt. Ngành nông nghiệp tỉnh Quảng Nam cho biết, từ năm 2010 đến nay, tỉnh đã chi kho...

Mỹ khẳng định cây trồng biến đổi gen an toàn

Mỹ khẳng định cây trồng biến đổi gen an toàn Không có bằng chứng nào cho thấy thực phẩm được làm từ các nguyên liệu hoặc có thành phần từ cây trồng biến đổi gen thiếu an toàn hơn so với thực phẩm không biến đổi gen. Mới đây, Viện Hàn lâm Khoa học, Kỹ thuật và Y học Hoa Kỳ - (National Academies of Sciences, NAS) đã xuất bản một bản báo cáo khoa học gần 400 trang, với tên gọi “Cây trồng Biến đổi gen: Trải nghiệm và Triển vọng” (Genetically Engineered Crops: Experiences and Prospects) và đưa ra kết luận: Không có bằng chứng nào cho thấy thực phẩm được làm từ các nguyên liệu hoặc có thành phần từ cây trồng biến đổi gen thiếu an toàn hơn so với thực phẩm không biến đổi gen. Cây trồng biến đổi gen được khẳng định là an toàn. Báo cáo lần này nghiên cứu và đánh giá các ảnh hưởng về kinh tế, nông học, y học, tính an toàn cũng như các tác động khác của cây trồng và thực phẩm biến đổi gen. Trong đó, các thà...

Những loại sâu bệnh hại cần chú ý trong tuần (từ 19-26/1)

Những loại sâu bệnh hại cần chú ý trong tuần (từ 19-26/1) Tại các tỉnh phía Bắc, rầy các loại, châu chấu... phát sinh nhẹ trên mạ, chuột gây hại nặng cục bộ tại các vùng ven làng, gò bãi, vùng chưa tổ chức phòng trừ.   Châu chấu gây hại cho cây bắp 1. Trên lúa a) Các tỉnh phía Bắc: Rầy các loại, châu chấu... phát sinh nhẹ trên mạ, chuột gây hại nặng cục bộ tại các vùng ven làng, gò bãi, vùng chưa tổ chức phòng trừ. Tập trung phòng chống chuột; chăm sóc và chống rét cho mạ, lúa đã gieo, cấy. b) Các tỉnh Nam Trung bộ và Tây Nguyên: Sâu cuốn lá nhỏ, sâu keo, bọ trĩ, ruồi đục nõn, chuột, ốc bươu vàng phát sinh, gây hại cục bộ trên lúa ĐX sớm giai đoạn mạ, đẻ nhánh. c) Các tỉnh Nam bộ: - Rầy nâu trên đồng phổ biến tuổi 1 - 2, gây hại chủ yếu ở mức nhẹ, trung bình, cục bộ một số nơi có mật số cao tập trung ở giai đoạn đòng trỗ. Các tỉnh cần theo dõi chặt chẽ phát hiện sớm và phòng trị kịp thời khi rầy cám nở rộ tập trung tuổi 2 - 3. - Thời tiết và ...